Với mỗi người dân đất Việt, Tết luôn là một dịp trọng đại. Tết về mang lại niềm vui, niềm háo hức.Tết về khiến mọi thứ thêm rộn vang, nhộn nhịp. Và có thể nói không khí hân hoan chào đón Tết được thể hiện rõ ràng nhất là vào những ngày cận kề ba mươi. Trong đó nổi bật nhất bởi các hoạt động về ẩm thực phải kể đến như làm bánh tét và nấu thịt kho tàu vào hai tám, hai chín để dâng cúng ông bà Tổ Tiên hay dùng làm quà biếu tặng những người thân quen.
Thanh Thùy

BÁNH TÉT
Bánh tét có thể được làm và ăn quanh năm. Tuy nhiên bánh tét vào ngày Tết lại được xem là một món ăn cổ truyền, mang đậm dấu ấn văn hoá của người dân Nam Bộ. Bánh tét phổ biến với hai loại nhân hấp dẫn: bánh ngọt được làm bởi nhân chuối và bánh mặn được làm với nhân thịt và đậu.
Nguyên liệu làm bánh cần chuẩn bị như: gạo nếp, thịt heo, đậu xanh tách vỏ, nước cốt dừa, tôm khô, hành củ…, và một số loại gia vị khác. Quy trình thực hiện thường bao gồm ba công đoạn: sơ chế nguyên liệu, nấu bánh, gói bánh. Ở khâu sơ chế nguyên liệu, ta sẽ phải ngâm gạo nếp trong nước vài tiếng và sau đó đãi sạch, để ráo rồi xào với nước cốt dừa cho béo nếp. Đậu xanh cũng làm tương tự ngâm và bóc sạch vỏ. Thịt nạc vai hoặc ba rọi cắt thành miếng dài khoảng 10-12cm để làm phần nhân bánh. Lá chuối nên phơi héo một chút hoặc có thể chần sơ qua nước nóng cho dai. Sau khi đã hoàn thành phần sơ chế, ta chuyển sang công đoạn gói bánh. Trước tiên cần xếp nhiều lớp lá chuối chồng lên nhau rồi dùng thìa dàn trải lượng nếp cùng đậu xanh vừa đủ lên trên lá. Sau đó, lần lượt cho thêm thịt heo, tôm khô vào giữa bánh để làm nhân rồi gói lại thành đòn dài và dùng dây lạt buộc chắc chắn. Cuối cùng ta đến bước nấu bánh. Bánh tét muốn ngon cần được nấu ngập trong nước trong khoảng 6 – 8 giờ. Trong quá trình nấu cần phải giữ cho nhiệt độ nóng đều thì bánh mới chín đều và ngon.

Cũng như bánh chưng, bánh tét cũng mang trong mình những ý nghĩa văn hoá đặc biệt. Bánh tét với nhiều lớp lá bao bọc bên ngoài tượng trưng cho sự che chở, đùm bọc của người mẹ dành cho con; đồng thời thể hiện niềm mong ước đoàn viên, sum vầy. Nhân bánh tét đậu xanh vàng ươm thể hiện lòng biết ơn thiên nhiên đã ban tặng cho con người nguồn lương thực quý giá.
THỊT KHO TÀU
Thịt kho tàu là một món ăn truyền thống và phổ biến trong bữa cơm của mọi gia đình ở cả ba miền Bắc Trung Nam. Dù là ngày thường hay mỗi dịp Tết đến xuân về, có nồi thịt kho tàu trong bữa cơm gia đình đều khiến chúng ta cảm thấy ấm lòng, ngon miệng.
Nguyên liệu để làm nên món thịt kho tàu cũng không quá phức tạp, gồm có thịt ba rọi, trứng vịt, nước mắm, nước dừa xiêm, hành, tỏi và một sốt gia vị thông dụng khác. Khi đã chuẩn bị đầy đủ nguyên liệu ta bắt tay vào việc chế biến. Đầu tiên, thịt sau khi mua về phải sơ chế sạch, để ráo nước, cắt khúc vuông khoảng 4-5 cm, dùng dây lạt buộc hình chữ thập từng miếng thịt để thịt không bị bở trong quá trình nấu. Tiếp theo, ta nêm nếm gia vị, ướp khoảng hai giờ để thịt thấm đều. Sau đó, phi hành, tỏi xào thịt cho săn lại. Trứng vịt đem luộc chín, bóc vỏ sạch. Thịt sau khi xào, cho nước màu và nước mắm vào nấu cho đến khi sôi thì đổ nước dừa ngang mặt thịt. Cuối cùng cho trứng vịt đã bóc vỏ vào nấu cùng.
Thưởng thức món thịt kho tàu có nhiều cách khác nhau. Nhưng phổ biến nhất là dùng với cơm trắng và đem cuốn cùng bánh tráng với dưa giá hoặc củ kiệu. Chỉ cần vậy ta đã có thể thưởng thức trọn vẹn hương vị của món thịt kho tàu vào dịp Tết. Cái hương vị mặn mặn, ngọt ngọt, vừa bùi vừa béo của thịt đã làm xao xuyến biết bao người dân Việt.
Từ lâu, thịt kho tàu đã trở thành một nét đẹp văn hoá dân tộc, đóng góp vào kho tàng ẩm thực phong phú của nước nhà. Trứng có hình tròn, thịt có hình vuông như sự nối kết giữa trời và đất, làm hoà quyện không khí Tết, gắn bó các thành viên trong gia đình từ bé đến lớn lại với nhau khiến ai nấy đều dễ dàng cảm nhận được không khí tình thân, sum vầy.
Ngồi quây quần bên nhau trong bữa cơm đoàn viên dịp Tết đến mà có sự hiện diện của những khoanh bánh tét bắt mắt và những chén thịt kho tàu mềm thơm thì còn gì bằng phải không nào !

